Bảng trọng lượng bình thường đối chiếu với tuổi

Bảng trọng lượng đối chiếu với tuổi

Nhận định chung: Trẻ được 5 tháng phải cân nặng gấp đôi lúc mới sinh. (Số đo trẻ em Việt Nam tới 6 tháng, như vậy là do nuôi kém). Được 12 tháng, gần gấp 3 lúc mới sinh.

Tuổi

Trọng lượng

Đặc điểm sinh lý

Mới sinh 3,2kg Trai thường nặng hơn gái, con dạ nặng hơn con so.
Trẻ 1 tháng 3,5kg Cho ăn sữa mẹ
Trẻ 6 tuần 3,7kg
Trẻ 2 tháng 4,3kg
Trẻ 3 tháng 5,1kg Cho uống nước trái cây từ tháng 3
Trẻ 4 tháng 6kg Cho Chủng đậu
Trẻ 5 tháng 6,7kg
Trẻ 6 tháng 7,4kg Cho bú kèm sữa bột
Trẻ 7 tháng 7,8kg Bắt đầu mọc răng, răng cửa hàm dưới rước.
Trẻ 8 tháng 8,2kg
Trẻ 9 tháng 8,6kg Cho ăn lòng đỏ trứng
Trẻ 10 tháng 9kg
Trẻ 11 tháng 9,6kg Khởi đầu cho ăn nước thịt ép
Trẻ 12 tháng 9,8kg Phải biết nói, chững được baba mama
Trẻ 15 tháng 10,5kg Phải chập chững biết đi, nói được 1 số tiếng.
Trẻ 2 tuổi 12 kg
Trẻ 3 tuổi 14kg
Trẻ 4 tuổi 16kg
Trẻ 5 tuổi 18kg
Trẻ 6 tuổi 20kh

Bảng trên đây dựa theo tài liệu chung các nước để tham khảo. Đa số trẻ em Việt nam là cân nhẹ hơn mức ghi ít nhiều. Theo sự nhận xét sơ bộ thì trẻ em Việt Nam một tuổi kém gần 2kg trẻ em Liên Xô; chiều cao kém 2 – 3cm.

Sự chênh lệch vẫn tồn tại ở các năm sau (trẻ em Việt Nam 2 tuổi bằng trẻ em Liên Xô 1 tuổi). Tuy nhiên, số trẻ con đẻ chưa đúng ngày ở ta cũng còn nhiều. do đó cân nhẹ hơn 3 cân.

Mọi ý kiến đóng góp xin liên hệ: 0936 488 420